Những Bất Cập Trong Luật Bảo Vệ Môi Trường Năm 2014

0
264
luật bảo vệ môi trường

Sau nhiều năm triển khai và thực hiện, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 cũng cho thấy nhiều vấn đề bất cập và hạn chế, đòi hỏi cần phải sửa đổi và bổ sung sao cho phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước hiện nay.

Trên cơ sở Điều 43 và điều 63 của Hiến Pháp năm 2013, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014. Trong Luật này có ghi nhận những quy định mang tính tiến bộ và cải tiến hơn so với Luật năm 2005 trong các nguyên tắc, quy định về quy hoạch quy hoạch môi trường và phương pháp ứng phó với biến đổi khí hậu.

Bên cạnh những ưu điểm vượt trội trong việc kiềm chế khả năng gia tăng ô nhiễm môi trường và góp phần bảo vệ môi trường hiệu quả, luật này đang dần bộc lộ những bất cập do không còn quá phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước.

1. Quy hoạch môi trường chưa cụ thể và khả thi

Theo phân tích của Tiến sĩ Bùi Đức Hiển và Tiến sĩ Huỳnh Minh Luân, một trong những điểm nổi bật cơ bản của Luật Bảo vệ Môi trường là đảm bảo các nguyên tắc cơ bản trong quy hoạch bảo vệ môi trường phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh. Các chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đảm bảo phát triển bền vững và thống nhất đối với hoạt động quy hoạch sử dụng đất. Đồng thời cũng thống nhất với những nội dung cơ bản của quy hoạch bảo vệ môi trường.

Được biết quy hoạch môi trường bao gồm 2 cấp độ là quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia và cấp tỉnh. Theo đó chu kỳ của kế hoạch quy hoạch môi trường là 10 năm, tầm nhìn quy hoạch lên đến 20 năm căn cứ theo khoản 2,3 Điều 8. Có thể thấy đây là cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường một cách hiệu quả nhất.

Luật Bảo vệ Môi trường 2014 quy định cụ thể về việc lập kế hoạch quy hoạch và hệ thống, các thẩm quyền và trình tự thủ tục thẩm định, lấy ý kiến, phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường. Ngoài ra Luật năm 2014 quy định cụ thể việc điều chỉnh, công bố và quyết định tổ chức thực hiện đối với quy hoạch bảo vệ môi trường.

Sau 5 năm áp dụng vào thực tiễn, việc quy định về quy hoạch đất đai trong thời gian qua cho thấy nhiều hạn chế, bất cập. Thông thường vấn đề quy hoạch sử dụng đất căn cứ theo những thay đổi về mặt tổng thể kinh tế xã hội sẽ có nhiều sự thay đổi điều chỉnh sao cho phù hợp nhất với tình hình kinh tế – xã hội tại thời điểm đó. Thực tế việc lập kế hoạch sử dụng đất là một kế hoạch dài hạn với thời gian lên đến 10 năm. Việc xảy ra xáo trộn và thiếu ổn định là điều không thể tránh khỏi khi thực hiện các chính sách về bảo vệ môi trường.

Hiện nay tại Việt Nam đã tồn tại rất nhiều loại quy hoạch được xây dựng trên nền tảng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, tuy nhiên bên trong các kế hoạch này vẫn thiếu sự thống nhất thậm chí mâu thuẫn chồng chéo lên nhau. Chẳng hạn như trong quy hoạch đất từng với mục đích bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng đất nhưng các loại quy hoạch lại đưa ra các mục đích sử dụng không mang tính thống nhất.

Mặt khác hệ thống quy hoạch, nội dung, thẩm quyền và trình tự thủ tục quy hoạch đất không giống nhau dẫn đến những bất cập cả về nhân lực lẫn vật lực. Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi người làm luật phải xây dựng các nội dung về quy hoạch môi trường một cách khả thi và cụ thể hơn nhưng vẫn giữ được nét tương quan đối với những quy hoạch có liên quan.

luật bảo vệ môi trường
Quy hoạch môi trường chưa cụ thể và khả thi

2. Luật Bảo vệ Môi trường đánh giá tác động môi trường chưa khách quan

Hoạt động đánh giá tác động môi trường góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa ô nhiễm môi trường. Vấn đề đánh giá tác động ĐTM từ lâu đã được quy định tại các Luật Bảo vệ Môi trường trước đó như Luật năm 1993 và được hoàn thiện hơn vào các luật sau này.

Thực tiễn vẫn ghi nhận nhiều bất cập trong các cơ chế giám sát và trách nhiệm pháp lý hữu hiệu trong quá trình lập, thẩm định, phê duyệt, tổ chức báo cáo thực hiện ĐTM. Nói cách khác việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chỉ mang tính hình thức.

Chủ yếu việc thẩm định báo cáo ĐTM được thực hiện thông qua hình thức hồi đồng thẩm định. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có quy định cụ thể cho các vấn đề trách nhiệm pháp lý. Vì vậy trách nhiệm pháp lý của các thành viên hội đồng và các kết luận thẩm định còn chưa cao. Có thể nói các quyết định của hội động thẩm định có thẩm quyền phê duyệt các báo cáo ĐTM đều ít nhiều chịu sự chi phối mang tính chủ quan của người thành lập hội đồng.

Ngoài ra một số trường hợp cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư cũng đồng thời là cơ quan thẩm định báo cáo ĐTM gây nên hiện tượng thiếu khách quan trong việc thẩm định. Ngoài ra còn một cách thẩm định báo cáo thông qua lấy ý kiến của cơ quan có thẩm quyền liên quan về báo cáo ĐTM. Hình thức này được đánh giá cao bởi tính đơn giản không phải thông qua hội đồng, tuy nhiên thường ít được áp dụng trong đánh giá báo cáo ĐTM.

luật bảo vệ môi trường
Đánh giá tác động môi trường chưa khách quan

3. Quy định ứng phó với biến đổi khí hậu chưa phù hợp, thống nhất và đồng bộ

Tại chương VI của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 đề cập đến vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu. Thực tế những quy định này chỉ mang tính hệ thống chưa đảm bảo được tính logic cũng như tương ứng với lý luận về ứng phó biến đổi khí hậu.

Về mặt lý luận, ứng phó biến đổi khí hậu được chia thành thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ tiêu cực của biến đổi khí hậu. Thiết nghĩ để đảm bảo thống nhất và toàn diện, các quy định tại chương này cần được thiết kế sao cho phù hợp với lý thuyết về cả tính thống nhất và toàn diện.

Bên cạnh đó các quy định và thiết chế tổ chức thực hiện ứng phó với biến đổi khí hậu quy định trong Luật Bảo vệ Môi trường 2014 đòi hỏi phải phù hợp, thống nhất và đồng bộ với các luật có liên quan chẳng hạn như Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015, Luật phòng chống thiên tại 2013,… Ngoài các văn bản trên, các quy định cũng nên có sự thống nhất với các điều ước quốc tế chẳng hạn như CPTPP, EVFTA, Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu.

luật bảo vệ môi trường
Quy định ứng phó với biến đổi khí hậu chưa phù hợp, thống nhất và đồng bộ

4. Luật Bảo vệ Môi trường xác định chưa rõ trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ môi trường

Mặc dù pháp luật hiện hành đã có phân biệt rõ ràng hai nhóm chất thải nguy hại và nhóm chất thải thông thường, từ đó có kế hoạch quản lý phù hợp hơn trong bối cảnh nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác gần như cạn kiệt. Theo xu hướng phát triển của thế giới, ngành công nghiệp tái chế trở thành miếng mồi béo bở mang lại lợi nhuận không tưởng. Mặc dù vậy tại Việt Nam, nhóm chất thải thông thường vẫn chưa được nhìn nhận đúng đắn với lợi ích mà nó mang lại.

Ngoài ra các bất cập, các vấn đề trong khâu thu gom, phân loại, lưu giữ, vận chuyển, xử lý, tái chế dần lộ ra do việc thực hiện các quy định chưa thực sự hiệu quả và đúng với thực tiễn. Trong đó các quy định kiểm soát các chất thải nhựa vẫn khá bất cập, khung hình phạt đối với các hành vi vi phạm các quy định về kiểm soát chất thải vẫn chưa thật sự nghiêm khắc.

Hiện nay vấn đề xử lý hành vi vi phạm công tác quản lý chất thải được quy định trong nghị định số 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường quá nhẹ không có tính răn đe. Đối với các hành vi vi phạm các quy định quản lý chất thải trong bộ luật hình sự, thực tiễn cho thấy có rất ít người phải chịu các hình phạt một cách đúng đắn.

Bên cạnh đó vấn đề quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường chưa được quy định cụ thể, chi tiết. Chẳng hạn chủ thể được quyền khởi kiện, yêu cầu thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường chỉ có thể là các cơ quan nhà nước. Trong thực tế chủ thể này không áp dụng cách thức khởi kiện mà chỉ áp dụng hình thức phạt hành chính. Thiết nghĩ nên đặt ra vấn đề về việc mở rộng chủ thể có quyền khởi kiện đòi yêu cầu bồi thường thiệt hại về suy giảm chức năng và tính hữu ích của môi trường. Đại diện cộng đồng có thể là chủ thể phù hợp để khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, quyền được sống trong môi trường trong lành cũng như bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cũng như tài sản và các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân và pháp nhân.

Ngoài ra yêu cầu bồi thường thiệt hại do các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường còn mở ra một vấn đề nan giải khác về việc chủ thể bị thiệt hại phải chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại. Nguyên tắc này chỉ mang tính lý luận vì thực tế rất khó để chứng minh được thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây ra. Điều này vô tình khiến người bị thiệt hại trở nên yếu thế hơn. Để việc chứng minh trở nên minh bạch và nhanh chóng hơn cũng như lấy lại cân bằng về quyền và lợi ích của hai bên, việc chứng minh nên chuyển từ chủ thể bị thiệt hại sang chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật môi trường.

Về mặt trách nghiệm nghĩa vụ bảo vệ môi trường, cần phải làm rõ đây là trách nhiệm của Nhà nước, của các tổ chức cá nhân chủ nguồn nước thải và cả cộng đồng. Trong đó Nhà nước đóng vai trò thay mặt người dân quản lý nhà nước bao gồm cả khía cạnh môi trường.

luật bảo vệ môi trường
Luật Bảo vệ Môi trường xác định chưa rõ trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ môi trường

Để bắt kịp với xu hướng phát triển của xã hội, Luật Bảo vệ Môi trường 2014 bắt buộc phải có sự chuyển mình trong việc nâng cao vai trò của các tổ chức xã hội và cộng đồng trong các chính sách, quy hoạch môi trường cũng như ngăn chặn, yêu cầu bồi thường với các hành vi gây ô nhiễm môi trường.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây