Bảng Hiệu, Quyền Sở Hữu Nhãn Hiệu Và Tên Thương Mại

0
237
bảng hiệu

Bảng hiệu trong kinh doanh có tác dụng là công cụ truyền tải thông tin về chủ thể kinh doanh ra công chúng. Đây là phương tiện giúp truyền tải thông tin sản phẩm. Tuy nhiên lợi thế này cũng gặp nhiều tình huống vi phạm sở hữu trí tuệ đối với tên thương mại hay nhãn hiệu hàng hóa.

1. Pháp luật thực định về bảng hiệu

Tương tự như tên thương mại, bảng hiệu là yếu tố cấu thành sản nghiệp thương mại. Nó có chức năng phân biệt thương hiệu cá nhân, tổ chức này với các đối thủ cạnh tranh khác.

Vì biển hiệu là một dấu hiệu thể hiện bên ngoài và có thể nhìn thấy được nên để có thể đặt bảng hiệu ở trụ sở kinh doanh thì cần đáp ứng các điều kiện sau:

1.1. Tính hợp pháp

Pháp luật Việt Nam quy định các điều kiện của bảng hiệu bao gồm tính hợp pháp đồng nghĩa với yêu cầu đáp ứng các nội dung được quy định theo pháp luật. Căn cứ vào khoản 1 Điều 34 Luật Quảng Cáo năm 2012, nội dung bảng hiệu phải bao gồm tên cơ quan chủ quản trực tiếp, tên cơ sở sản xuất đúng như giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, địa chỉ và số điện thoại.

Ngoài ra, việc sử dụng thực tế biển hiệu không được pháp luật thừa nhận xác lập quyền. Vì thế, một biển hiệu phải đảm bảo được nội dung và đảm bảo mỹ quan. Một biển hiệu hợp pháp là một bảng hiệu được treo tại trụ sở của chủ thể kinh doanh.

Tuy nhiên pháp luật vẫn chưa đề cập trường hợp nội dung trên bảng hiệu xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh khác trong kinh doanh và trật tự xã hội,… Chẳng hạn một cửa hàng kinh doanh thực  phẩm chức năng sử dụng biểu tượng chữ thập gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Ngoài ra một số biển hiệu có dấu hiệu tương tự hoặc trùng với các biển hiệu của các thương hiệu đã có trước đó.

bảng hiệu
Pháp luật thực định về bảng hiệu

1.2. Tính phân biệt

Biển hiệu giúp thể hiện thông tin để phân biệt các chủ thể kinh doanh trong cùng lĩnh vực và các khu vực kinh doanh với nhau. Theo quy định tại Điều 34 Luật Quảng Cáo 2012, quy định này đã có phần thu hẹp hơn khi bảng hiệu chỉ được thể hiện tên đầy đủ của chủ thể kinh doanh đã đăng ký và thông tin liên hệ.

Với quy định này, luật Quảng cáo đã có sự phân biệt nội dung quảng cáo và thể hiện sự tồn tại về mặt pháp lý của chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên nhiều chuyên gia cho rằng thông tin về địa chỉ là không cần thiết.

Bởi lẽ căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị định số 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 6/11/2009 ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng, bảng hiệu được xem là hợp pháp khi treo ngay trụ sở. Song tại khoản 4 Điều 17 Luật Quảng cáo năm 2012, bảng hiệu còn có thể được khai thác tại các phạm vi địa lí khác.

Có thể nói quy định về biển hiệu có sự mâu thuẫn và nhanh chóng dẫn đến nhiều hệ lụy trong công tác quản lý cũng như khai thác quyền sở hữu trí tuệ đối với bảng hiệu.

bảng hiệu
Tính phân biệt của bảng hiệu

2. Mối quan hệ giữa bảng hiệu, quyền sở hữu và tên thương mại

2.1. Bảng hiệu với tên thương mại

Theo khoản 21 Điều 4 và khoảng 6 điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, tên thương mại được thể hiện trong biển hiệu là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt các chủ thể thương mại khác nhau trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Tuy nhiên trong luật này, lại không có định nghĩa về bảng hiệu. Đồng thời bảng hiện theo quy định của Luật Quảng cáo chỉ được thể hiện tên cơ sở sản xuất kinh doanh theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Nói cách khác tên thương mại và bảng hiệu có đặc điểm pháp lý gần giống nhau chẳng hạn:

  • Tính hợp pháp của tên thương hiệu và bảng hiệu: yếu tố tương đồng của hai loại bảng hiệu và tên thương mại đầu tiên là phải là các đối tượng hợp pháp. Chủ thể kinh doanh phải đăng ký tên trước thì mới đảm bảo tính hợp pháp của tên thương mại và bảng hiệu.
  • Cả hai đối tượng này đều thể hiện tên gọi chủ thể trong các giao dịch kinh doanh nhằm mục đích phân biệt thương hiệu này với các thương hiệu khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh hoặc một số lĩnh vực khác.
  • Một chủ thể kinh doanh chỉ được sử dụng một tên thương mại và một bảng hiệu, đây là quy định của luật Quảng cáo 2012.

Tuy nhiên pháp luật không bắt buộc đối với tên thương mại. Trong khi đó đố đối với bảng hiệu, đây là yếu tố bắt buộc căn cứ theo Điều 32 Nghị định số 155/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

Tên thương mại được công nhận quyền sở hữu công nghiệp và là yếu tố cấu thành của sản phẩm. Trong khi đó bảng hiệu chỉ là công cụ thể hiện sản phẩm ra bên ngoài và thu hút khách hàng trong cùng lĩnh vực và cùng phạm vi. Phạm vi bảo hộ đối với tên thương mại đã được quy định rõ trong luật Sở hữu trí tuệ. Trong khi biển hiệu không được đề cập trong phạm vi bảo hộ.

Như vậy việc sử dụng bảng hiệu có chứa tên thương mại vượt ra khỏi khu vực kinh doanh có được khai ngăn cấm các chủ thể sử dụng, khai thác tên thương mại trùng hoặc tương tự hay không? Đây vẫn là vấn đề pháp lý đặt ra cho các cơ quan có thẩm quyền. Về nguyên tắc, chủ sở hữu thương hiệu có quyền chấm dứt việc sử dụng tên thương mại hoặc khởi kiện ra tòa án đối với hành vi khai thác tên thương mại chưa có sự đồng ý của họ.

bảng hiệu
Mối quan hệ giữa bảng hiệu với quyền sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại

2.2. Biển hiệu với nhãn hiệu hàng hóa

Căn cứ theo khoản 16 Điều 4 Luật SHTT năm 2005, nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Nói cách khác nhãn hiệu có vai trò là thông tin về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa mà nó thể hiện.

Ngược lại, bảng hiệu trong luật Quảng cáo thể hiện sự tồn tại của chủ thể kinh doanh được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, một chủ thể có quyền sử dụng tên cùng một đối tượng là tên doanh nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa và tên thương hiệu.

Ngoài ra pháp luật Việt Nam không cấm việc dùng các dấu hiệu cấu thành biển hiệu để đem đi đăng ký nhãn hiệu hàng hóa. Có thể nói từ đó rút ra được bảng hiệu không đòi hỏi tính mới. Điều này dẫn đến tình trạng khó phân biệt các nhãn hiệu sản phẩm được đề cập bên trên bảng hiệu.

Luật sở hữu trí tuệ 2005 thừa nhận phạm vi bảo hộ của quyền sở hữu nhãn hiệu trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Còn với bảng hiệu, pháp luật SHTT chỉ công nhận nó trong một khu vực kinh doanh nhất định có thể bao gồm trụ sở của chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc một phạm vi khu vực địa lý khác.

Trong thực tế, một sản phẩm mang nhãn hiệu đồng thời là tên thương mại và tên doanh nghiệp khi được ghi trên bảng hiệu và treo trên toàn quốc khó có thể phân loại đối tượng biểu hiện trên thuộc loại nào. Ví dụ nếu có chủ thể sử dụng một tên thương hiệu ghi vào biển hiệu với mục đích ngăn cấm những chủ thể khác sử dụng trùng hoặc tương tự với tên thương mại của bản thân.

Câu hỏi đặt ra, liệu chủ sở hữu tên thương mại có quyền kiện chủ thể xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với tên thương mại của mình hay không? Liệu chủ thể có thể cấm người khác sử dụng biển hiệu có ghi tên thương mại của mình không?

Xét về mặt bản chất, việc sử dụng biển hiệu nhằm mục đích tiêu thụ sản phẩm ngay cả khi nội dung biển hiệu không thể hiện thông tin sản phẩm. Hay nói cách khác, biển hiệu không là yếu tố quyết định giúp người tiêu dùng phân biệt các sản phẩm mà chính là các dấu hiệu chỉ chủ thể kinh doanh.

Những lỗ hổng trong pháp luật gây nên bất cập trong việc sử dụng biển hiệu trước khi nhãn hiệu tương tự hoặc trùng được xác lập. Đối với các biển hiệu đã tồn tại trước, theo quy định của pháp luật về quyền SHTT thì  chủ sở hữu nhãn hiệu được xác lập sau không có quyền ngăn cấm việc khai thác. Lúc này một câu hỏi đặt ra cho chủ sở hữu nhãn hiệu và các cơ quan chức năng rằng, nếu biển hiệu được khai thác và trở thành bảng hiệu nổi tiếng thì việc đăng ký một nhãn hiệu hàng hóa có yếu tố trùng hoặc tương tự với biển hiệu nổi tiếng này sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc sản phẩm.

Tuy nhiên hiện nay bởi pháp luật không có quy định về xác lập quyền sở hữu đối với biển hiệu nên có thể nói chủ sở hữu bảng hiệu khó có thể khởi kiện chủ thể khác có hành vi sử dụng nội dung ghi trên biển hiệu. Vấn đề này ngày càng được quan tâm bởi khi biển hiệu của doanh nghiệp được khai thác và trở thành bảng hiệu nổi tiếng vượt ra khỏi khuôn khổ lãnh thổ.

Ngoài ra việc đăng ký nhãn hiệu đối với bảng hiệu nổi tiếng có thể xem là hành vi mang mục đích lợi dụng sự nổi tiếng của dấu hiệu đã tồn tại trong thực tế. Mặc dù vậy đây là một lỗ hổng pháp luật khi không xác lập quyền sở hữu đối với biển hiệu. Mặc dù chịu tổn hại nhưng những chủ thể có biển hiệu khó có thể có căn cứ để khởi kiện chủ thể có hành vi sử dụng nội dung trên biển hiệu vì mục đích trục lợi.

bảng hiệu
Mối liên hệ giữa biển hiệu với nhãn hiệu hàng hóa

Tóm lại mặc dù giữa biển hiệu, tên thương mại và nhãn hiệu hàng hóa có nhiều đặc điểm pháp lý tương đồng song nếu như tên thương mại và nhãn hiệu hàng hóa nhận được sự bảo hộ của pháp luật sở hữu trí tuệ thì bảng hiệu vẫn chưa được quan tâm một cách đúng đắn.

Đến nay vẫn còn khá nhiều tranh cãi xoay quanh tên thương mại, nhan nhãn hiệu hàng hóa và bảng hiệu. Do đó việc xác lập quyền sở hữu đối với biển hiệu cũng như nội dung thể hiện của biển hiệu nên được bổ sung nhằm giải quyết vấn đề xung đột giữa các quyền sở hữu trí tuệ với bảng hiệu

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây