4 Đặc Điểm Nổi Bật Của Tiếng Nhật Không Phải Ai Cũng Biết

0
386

Nhật Bản là một đất nước nổi tiếng với những nét đặc sắc về văn hóa, xã hội và con người. Hơn hết, tiếng Nhật được xem là quốc ngữ của Nhật Bản và được mệnh danh là một trong những ngôn ngữ khó học nhất trên thế giới.

1. Hệ thống chữ viết của tiếng Nhật

Tiếng Nhật là một hệ thống ngôn ngữ được cho phức tạp bậc nhất trong số các ngôn ngữ cũng như có hệ thống chữ viết vô cùng khác lạ có nét đặc trưng riêng. Nó cũng gây khó khăn không kém cho những người nước ngoài học tiếng Nhật hiện nay, trong đó có các học viên Việt Nam.

Mặc dù ngôn ngữ này lấy cơ sở từ Hán tự của Trung Quốc rồi từ đó biến đổi và đồng hóa nó trở nên độc đáo nhưng cũng không kém phần phức tạp. Tuy nhiên tiếng Nhật vẫn là một hệ thống ngôn ngữ độc, lạ và được xem như một sản phẩm văn hóa đặc trưng của người Nhật.

tiếng nhật
Tiếng Nhật là ngôn ngữ dùng 4 hệ thống chữ khác nhau

Người Nhật Bản sử dụng đến 4 loại chữ viết đó là chữ Hán được du nhập từ Trung Hoa từ khoảng thế kỷ thứ III, 2 bộ chữ Hiragana và Katakana do người Nhật tạo ra từ khoảng thế kỷ VIII và bộ chữ Latin thông qua các nhà truyền giáo đến từ Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha được du nhập vào Nhật Bản khoảng từ thế kỷ thứ XVI.

1.1. Chữ Hán

Trong khoảng thời gian đầu công nguyên thì Trung Hoa được xem là quốc gia duy nhất có hệ thống chữ viết lúc bây giờ. Do sự phát triển, khai hóa, giao lưu mà Nhật Bản lúc này cũng đòi hỏi cần phải phát triển về hệ thống chữ viết. Vì thế mà chữ Hán nhanh chóng du nhập vào Nhật Bản như một phần tất yếu của lịch sử.

Rất nhiều tư liệu và ý kiến cho rằng chữ Hán du nhập vào Nhật Bản thông qua Bán đảo Triều Tiên vào khoảng từ thế kỉ III đến thế kỷ IV. Qua đó, người mang chữ Hán vào nước Nhật được gọi là Do Raijin là những người chuyên đi viết thuê bên ngoài. Và sau này, họ trở thành những người ghi chép cho triều đình.

Ban đầu, người Nhật lấy 100% âm tiết của tiếng Trung Quốc mà sử dụng. Vì thế mà hiện nay những âm tiết tiếng Nhật gần tương tự với tiếng Trung thường được đọc là On, còn những từ trùng lặp hoàn toàn thì đọc là Kun. Vì thế mà trong hệ thống Hán-Nhật thường có 2 cách đọc là On và Kun. Trong tiếng Nhật, mỗi hán tự đều có 2 cách đọc là In trở lên và thường sẽ có nhiều hơn một cách đọc là Kun 

1.2. Hiragana và Katakana

Đây được xem là 2 hệ thống chữa cái do người Nhật sáng tạo ra từ thời Heian (794-1192), qua đó, 2 loại chữ này được tạo ra dựa trên cơ sở biến đổi của chữ Hán. Ban đầu 2 loại chữ tiếng Nhật là Hiragana và Katakana được sử dụng để ghi tên người. Tuy nhiên, cũng có những nhận định cho rằng chữ Kana ban đầu được sử dụng để sáng tác thơ thời ấy.

Một số nghiên cứu còn cho thấy vào thời ấy, âm tiết tiếng Nhật có tất cả là 87 loại âm tiết nhưng có đến 970 chữ Hán dùng để ghi âm. Có thể thấy trong lịch sử, chữ Hán thường được dùng để ghi âm hệ thống chữ Kana này.

Chữ Hiragana là hệ thống chữ được hình thành dựa trên lối viết Manyogana là lỗi viết thảo chữ phổ biến ở thời Heian. Dựa trên những ghi chép hiện nay xác định chữ Hiragana ra đời trong khoảng từ thế kỷ IX đến đầu thế kỷ X. Ban đầu khi mới ra đời chữ Hiragana được gọi là Onnade tức là loại chữ viết dành cho giới nữ.

Ta có thể bắt gặp các tác phẩm văn học bằng chữ Hiragana vào thời đó như Wakashu (Tập hòa ca), Genji monogatari (Truyện kể Genji). Nếu chữ Hán hay chữ Manyogana là loại chữ dành cho đàn ông thì Hiragana là loại chữ dành cho phụ nữ trong xã hội Nhật Bản xưa.

Chữ Katakana là hệ thống chữ ra đời cùng thời với Hiragana. Bộ chữ này được tạo ra từ sự giản lược của chữ Manyogana, vậy nên cái tên Katakana có “Kata” với nghĩa là “một phần”. Chữ Katakana phổ biến trong giới tăng lữ, được sử dụng làm chữ viết chép kinh Phật là chính . Tuy vậy, ta cũng có thể thấy chữ Katakana cũng xuất hiện trong các tác phẩm văn học lúc bấy giờ như tác phẩm Konjaku Monogatari. Cho đến năm 1990, chữ Katakana bắt đầu được chuẩn hóa và trở nên phổ biến hơn.

2. Ngữ âm tiếng Nhật

Ngữ âm là đơn vị nhỏ nhất trong 4 cấp độ của một ngôn ngữ. Qua đó, bất kỳ ngôn ngữ nào cũng sẽ có hệ thống ngữ âm riêng. Với tiếng Nhật, âm tiết là một yếu tố rất quan trọng vì nó là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất và cũng là đơn vị dùng để phát âm. Có thể thấy rằng tiếng Nhật chỉ có 112 dạng âm tiết, không nhiều.

Nếu tiếng Việt, mỗi âm tiết đều trùng với đơn vị từ và có mang nghĩa thì âm tiết trong tiếng Nhật hầu như không mang nghĩa và một từ là sự tổ hợp của nhiều âm tiết khác nhau. Chẳng hạn như với từ おもしろい (Thích thú) phiên âm ra là Omoshiroi, khi đọc ta có thể nhận là có 5 âm tiết /o/, /mo/, /shi/, /ro/ và /i/.

tiếng nhật
Tiếng Nhật là ngôn ngữ có rất ít âm tiết

Mặc dù là trong tiếng Nhật vẫn có những từ có 1 âm tiết nhưng số lượng hầu như rất ít và không đáng nhắc đến. Trong trường hợp này thì âm tiết sẽ trùng với hình vị và từ như trong tiếng Việt.

Với hệ thống nguyên âm và phụ âm thì tiếng Nhật là hệ thống gồm có tất cả là 5 nguyên âm /a, i, u, e, o/ cùng với 12 phụ âm là /k, s, t, g, z, d, n, m, h, b, p, r/. Suy cho cùng, số lượng như vậy là khá ít so với các ngôn ngữ khác.

3. Từ vựng

Mặc dù tiếng Nhật là ngôn ngữ có ít âm tiết nhưng số lượng từ lớn và rất phong phú. Điều này có thể so sánh giữa tiếng Nhật với các ngôn ngữ khác. Qua đó, một nghiên cứu so sánh các ngôn ngữ với nhau cho thấy nếu biết khoảng 1000 từ vựng tiếng Pháp thì khi hội thoại có thể hiểu được 83,5%. Còn với tiếng Nhật, khi dựa vào cuốn sách “Tiếng Nhật hiện đại” thì nếu biết 1000 từ thì chỉ hiểu được 60% hội thoại khi giao tiếp bằng tiếng Nhật.

Khi so sánh với các ngôn ngữ khác như tiếng Anh hay Tây Ban Nha, ngôn ngữ Nhật để giao tiếp cần phải viết rất nhiều từ mới có thể giao tiếp được. Ngoài ra nhiều từ tiếng Nhật có nguồn gốc xuất phát từ thơ ca và các tác phẩm tiểu thuyết đến nay đã ghi nhận hơn 720,000 từ. 

tiếng nhật
Số lượng từ vựng tiếng Nhật vô cùng đồ sộ và phong phú

Sự phong phú trong từ vựng tiếng Nhật còn được thể hiện trong tính tầng lớp của từ vựng. Nguyên nhân bắt nguồn từ sự hình thành, tiếp xúc và tiếp thu nền văn hóa Trung Hoa. Từ đó những từ ngữ vay mượn từ Trung Quốc cũng dần chiếm phần lớn trong hệ thống từ vựng tiếng Nhật.

Tuy nhiên, từ vựng Nhật Bản bắt đầu xuất hiện những từ ngữ ngoại lai vào khoảng thế kỷ thứ 16. Tuy nhiên phải đến thế kỷ thứ 19, số lượng các từ ngữ ngoại lai mới thật sự tăng đáng kể cho đến ngày nay. 

Một yếu tố khác tạo nên sự phong phú trong từ vựng tiếng Nhật là khả năng kết hợp các từ với nhau để tạo ra những từ mới. Khi các từ mới được ghép này dịch sang tiếng Việt, nó sẽ trở thành những cụm từ có ít nhất hai từ độc lập. Tuy nhiên nếu dịch sang tiếng anh thì phải dịch dựa theo một câu dài mới đủ nghĩa.  

4. Ngữ pháp

Đặc điểm nổi bật nhất trong ngữ pháp tiếng Nhật là trật tự trong câu hoàn toàn đảo ngược so với các ngôn ngữ khác như Anh, Trung, Việt,… Về nguyên tắc, vị ngữ trong tiếng Nhật đứng ở cuối câu. Hầu hết các ý nghĩa ngữ pháp sẽ được thể hiện bằng các trợ từ, động từ. Nói cách khác ngữ nghĩa của câu sẽ không có sự thay đổi ngay cả khi thay đổi trật tự từ trong câu. Đây là một điểm khác biệt cơ bản giữa tiếng Việt và tiếng Nhật.

Một đặc điểm khác của ngữ pháp tiếng Nhật là động từ trong tiếng Nhật thường có sự biến đổi về mặt hình thức thông qua ghép các tiếp vĩ ngữ chỉ thể, trạng thái,… nhưng không dùng để thể hiện ngôi hay số. 

tiếng nhật
Ngữ pháp là một yếu tố không thể thiếu

Mặt khác trong hội thoại tiếng Nhật, các ngôi nhân xưng thường được giản lược một cách tối đa. Điều này có thể bắt nguồn từ ý nghĩa ngữ pháp và hình thái trong câu đã được thể hiện bởi dạng thức của động từ. Vì vậy chỉ cần nhìn vào dạng thức có thể phân biệt được đâu là chủ thể lời nói, đối tượng giao tiếp và tương quan mối quan hệ xã hội của họ. 

Ngoài ra, kính ngữ là một yếu tố ngữ pháp khá quan trọng trong tiếng Nhật. Mặc dù các phương tiện biểu thị kính ngữ của tiếng Nhật có thể thông qua từ vựng và ngữ pháp, song phương tiện ngữ pháp thường được ưu tiên và chiếm tỉ lệ cao hơn. 

Hiện nay có khá nhiều định nghĩa về kinh ngữ, tuy nhiên cách hiểu chung nhất là các biểu hiện hay các dạng thức ngôn ngữ mà người nói hoặc người viết lựa chọn sao cho phù hợp với đối tượng, mục đích giao tiếp nhằm tỏ ý kính trọng với đối tượng trên.

Đối với kính ngữ thuộc phạm trù từ vựng, các loại kính ngữ này có thể chia thành 3 dạng thức bao gồm dạng thức kính trọng, dạng thức lịch sự và dạng thức khiêm tốn. Trong đó có một số động từ đặc biệt được quy định. Phần lớn các động từ trong tiếng Nhật đều có ba dạng thức kính ngữ với cách phân biệt nằm ở đuôi động từ. Đối với danh từ, cách thêm phụ tố vào phía trước các danh từ là một hình thức biểu hiện kinh ngữ bằng phương pháp ngữ pháp.

Việc sử dụng thành thạo kinh ngữ thực tế không phải là việc dễ làm ngay cả đối với người bản xứ. Để làm được điều này, bạn cần phải có sắc thái biểu cảm tinh tế và am hiểu các đặc điểm tâm lý xã hội tại Nhật Bản.

Tóm lại với 4 đặc điểm trên đây, không ngạc nhiên khi nhiều người cho rằng tiếng Nhật là một trong những thứ tiếng khó học nhất trên thế giới. Tuy vậy việc hiểu rõ ngôn ngữ Nhật Bản và vận dụng nó sao cho thuần thục là một trải nghiệm đầy thú vị mang con người lại gần hơn với nền văn hóa bản sắc dân tộc của Nhật Bản. 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây